sunrise
12-01-09, 01:07 PM
Trong giới mộ điệu cải lương, hỏi bài hát nào đi sâu vào lòng khán giả nhiều nhất, câu trả lời sẽ là bài vọng cổ Tình anh bán chiếu (của soạn giả Viễn Châu). Thật vậy, hiếm có bài hát nào đã gần 50 năm trôi qua nhưng vẫn được khán giả lưu lại trong lòng một tình cảm đặc biệt đến như vậy. Tại đồng bằng sông Cửu Long - cái nôi của nền cải lương Việt Nam - có thể bắt gặp đâu đó hình ảnh “ghe chiếu Cà Mau…” xuất phát từ giọng hát của một đứa trẻ hay một cụ già luống tuổi. Nhiều chuyện tình đẹp và thơ mộng cũng được khởi nguồn qua nhạc phẩm trên. Chính từ những “hiệu ứng” đặc biệt trên, Tình anh bán chiếu đã trở nên bất hủ.
[Only registered and activated users can see links]
Út Trà Ôn và soạn giả Viễn Châu
Xin được bắt đầu bài viết này bằng những mẩu chuyện như sau: Một sinh viên người nước ngoài học tập tại TP. Hồ Chí Minh, khi làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Việt Nam học đã chọn ngay bài Tình anh bán chiếu làm đề tài phân tích và đánh giá. Mở đầu phần giới thiệu của mình, người sinh viên trên chỉ nêu ngắn gọn: “Đây (Tình anh bán chiếu - PV) không những là một bài hát hay qua mọi thời kỳ mà còn là một tuyệt tác văn học...”. Câu chuyện thứ hai về một anh bạn Việt kiều theo gia đình định cư ở Mỹ từ khi lên 10 tuổi. Lần chuẩn bị về Việt Nam ăn tết này, anh báo trước với tôi rằng, bất cứ giá nào cũng phải dẫn anh về miền Tây để tham quan ngã bảy Phụng Hiệp - Cần Thơ. Địa danh được biết đến sau lần tình cờ nghe danh ca Út Trà Ôn hát bài Tình anh bán chiếu từ đĩa CD cũ kỹ mà mẹ anh vẫn còn gìn giữ. Trong lần về Cà Mau, tôi gặp một bạn trẻ vừa thể hiện bài Tình anh bán chiếu trên một sân khấu hát với nhau. Hỏi vì sao lại thuộc làu làu bài này mà không cần nhìn lời bài hát, anh bạn trẻ nhìn tôi như thể tôi từ trên trời rơi xuống rồi “phán” một câu chắc nịch: “Sao anh quê mùa quá vậy, ở cái miệt miền Tây cho dù có người ưa hay không ưa cải lương nhưng nếu bảo không biết đến bài vọng cổ này kể như không phải dân miền Tây chính gốc”. Ở TP. Hồ Chí Minh, chốc chốc đâu đó người đi đường lại được nghe “ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kênh ngã bảy...” được vọng ra từ các phòng karaoke, những quán ăn có sinh hoạt đàn ca tài tử... Nói như thế để biết rằng, Tình anh bán chiếu cho đến hiện giờ vẫn tràn đầy “sức sống”. Dù đã một phần hai thế kỷ trôi qua, nhưng nó vẫn tồn tại trong lòng khán giả và được mọi người nhớ về nó như một cái gì đó gần gũi nhất. Điều đáng trân trọng là giờ đây Tình anh bán chiếu không còn là một bài hát thông thường nữa, mà nó đã được thừa nhận như một áng văn bất hủ.
Một ngày đầu Xuân, tôi tìm đến nhà soạn giả Viễn Châu. Trong căn nhà chật chội nhưng lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, soạn giả Viễn Châu bồi hồi nhớ lại: “Thời điểm năm 1961, trong một lần về Bạc Liêu, đến ngã bảy Phụng Hiệp vào một buổi trưa, dừng chân bên một quán nhỏ ven đường, đang lúc nhâm nhi ly trà thì tôi thấy một thanh niên đang dựng bó chiếu nghỉ mát ở một gốc cây, mắt thì hướng về một đám cưới đang treo rèm, kết hoa ở phía xa xa. Một tia suy nghĩ bất chợt loé lên trong đầu và thế là chỉ chưa đầy một buổi trưa, câu chuyện về một chàng thanh niên bán chiếu từ miệt Cà Mau yêu thầm cô gái Phụng Hiệp - Cần Thơ đã được hình thành để rồi sau này trở thành nội dung chủ đạo của bài vọng cổ Tình anh bán chiếu”. Bài hát này soạn giả Viễn Châu ban đầu sáng tác dành riêng cho Út Trà Ôn (thời điểm này vừa được ông bầu hãng dĩa hát Hồng Hoa mời về) để rồi sau này Út Trà Ôn trở thành đệ nhất danh ca nhờ vào nó. Tuy nhiên, để “có chỗ đứng” trong lòng khán giả, Tình anh bán chiếu đã thành công nhờ vào những hình ảnh hết sức chân quê như con sông Phụng Hiệp, ghe chiếu Cà Mau, mối tình nhà quê của anh con trai tội nghiệp, thương mà không dám nói ra... tất cả được soạn giả Viễn Châu đưa vào bài hát một cách nhẹ nhàng và sâu lắng. Nội dung bài hát tuy bi thương nhưng nghe qua, rõ ràng không có sự ướt át, ủy mỵ thường thấy. Yếu tố thứ hai để có thể gọi đây là một áng văn bất hủ, xuất phát từ nghệ thuật dùng từ hay và tinh tế của người viết. Mặc dù ở Tình anh bán chiếu miêu tả về một chuyện tình cảm động của đôi trai gái miền quê nhưng xuyên suốt bài hát, thay vào cách xưng hô “em - anh”, người nghe chỉ được nghe “cô - tôi” để thể hiện sự rụt rè, đúng bản chất của người dân Nam Bộ (Cô ơi đôi chiếu bông này tự tay tôi dệt lấy); đôi khi thể hiện sự buồn bã, bức xúc cũng chỉ là “người ta” (người ta đã có đôi rồi…). Một Viễn Châu rất tinh tường khi dùng hình ảnh so sánh: anh bán chiếu với nỗi lòng bị phụ tình được ví như “hỡi ơi con sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngã, thì lệ của tôi sao nó cũng lai láng muôn dòng”. Để bài vọng cổ này được đi vào lòng khán giả, soạn giả Viễn Châu còn cho biết ông đã phối hợp nhiều yếu tố: văn chương, hình ảnh, cốt chuyện, âm nhạc và người thể hiện. Điều độc đáo, Tình anh bán chiếu không chỉ là chuyện tình tưởng tượng trong bài hát mà nó còn là những chuyện tình đẹp có thực ngoài đời. Tại Cần Thơ, có dạo giới thương hồ tưng bừng mở hội cưới nhau cho một cặp trai gái. Hai người quen nhau tình cờ trong một buổi cặp ghe chung trên bến Phụng Hiệp. Nàng cảm mến chàng hát bài Tình anh bán chiếu quá hay, sau đó đã đồng lòng “nâng khăn sửa áo” cùng nhau. Ngay cả soạn giả Viễn Châu, khi nghe chuyện về mối tình đẹp này ông cũng đã xúc động bởi một anh bán chiếu ngoài đời dẫu sao vẫn may mắn hơn và đó cũng là đoạn kết có hậu so với anh bán chiếu trong nhạc phẩm của ông.
Đôi nét về cha đẻ bài vọng cổ Tình anh bán chiếu và thể loại “tân cổ giao duyên”
Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá (Bảy Bá). Ông sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Xuất thân trong một gia đình Nho học, từ nhỏ ông đã tỏ ra đam mê và có năng khiếu về cải lương, đờn ca tài tử... Năm 19 tuổi, ông chơi thạo các loại nhạc cụ như: đàn tranh, đàn kìm, guitar, violon... Nhờ tài hoa nên ông đã nhanh chóng sáp nhập ban nhạc toàn những nhạc sĩ nổi tiếng thời đó như: Hai Biếu (đàn tranh), Bảy Hàm (đàn cò), Chí Hoà (kìm)...
[Only registered and activated users can see links]
Soạn giả - NSƯT Viễn Châu
Năm 1946, gia đình ông tham gia kháng chiến và người thân của ông bị địch bắt giết chết. Ông rời bỏ quê hương lên Sài Gòn tìm đến gánh Năm Châu nhưng sau đó cũng bị bắt. Năm 1949, ông trốn về được Sài Gòn và hoạt động nghệ thuật tiếp dưới cái tên Trương Văn Bảy. Được nhiều lớp đàn anh giúp đỡ, Viễn Châu đã tìm lại niềm đam mê cháy bỏng của mình qua việc sáng tác. Hơn 60 năm cầm bút, ông đã cho ra đời hàng trăm tác phẩm không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật mà còn ở lĩnh vực văn thơ. Song song với bài vọng cổ Tình anh bán chiếu, nhiều vở cải lương, bài hát khác được ra đời như: Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà, Lá trầu xanh, Kép hát làm vua... mà từ đó đã đưa nhiều nghệ sĩ trở nên nổi tiếng như: Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Minh Phụng, Lệ Thủy...
Năm 1988, soạn giả Viễn Châu được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.
NGUYỄN VINH(Công an TPHCM)
[Only registered and activated users can see links]
Út Trà Ôn và soạn giả Viễn Châu
Xin được bắt đầu bài viết này bằng những mẩu chuyện như sau: Một sinh viên người nước ngoài học tập tại TP. Hồ Chí Minh, khi làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Việt Nam học đã chọn ngay bài Tình anh bán chiếu làm đề tài phân tích và đánh giá. Mở đầu phần giới thiệu của mình, người sinh viên trên chỉ nêu ngắn gọn: “Đây (Tình anh bán chiếu - PV) không những là một bài hát hay qua mọi thời kỳ mà còn là một tuyệt tác văn học...”. Câu chuyện thứ hai về một anh bạn Việt kiều theo gia đình định cư ở Mỹ từ khi lên 10 tuổi. Lần chuẩn bị về Việt Nam ăn tết này, anh báo trước với tôi rằng, bất cứ giá nào cũng phải dẫn anh về miền Tây để tham quan ngã bảy Phụng Hiệp - Cần Thơ. Địa danh được biết đến sau lần tình cờ nghe danh ca Út Trà Ôn hát bài Tình anh bán chiếu từ đĩa CD cũ kỹ mà mẹ anh vẫn còn gìn giữ. Trong lần về Cà Mau, tôi gặp một bạn trẻ vừa thể hiện bài Tình anh bán chiếu trên một sân khấu hát với nhau. Hỏi vì sao lại thuộc làu làu bài này mà không cần nhìn lời bài hát, anh bạn trẻ nhìn tôi như thể tôi từ trên trời rơi xuống rồi “phán” một câu chắc nịch: “Sao anh quê mùa quá vậy, ở cái miệt miền Tây cho dù có người ưa hay không ưa cải lương nhưng nếu bảo không biết đến bài vọng cổ này kể như không phải dân miền Tây chính gốc”. Ở TP. Hồ Chí Minh, chốc chốc đâu đó người đi đường lại được nghe “ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kênh ngã bảy...” được vọng ra từ các phòng karaoke, những quán ăn có sinh hoạt đàn ca tài tử... Nói như thế để biết rằng, Tình anh bán chiếu cho đến hiện giờ vẫn tràn đầy “sức sống”. Dù đã một phần hai thế kỷ trôi qua, nhưng nó vẫn tồn tại trong lòng khán giả và được mọi người nhớ về nó như một cái gì đó gần gũi nhất. Điều đáng trân trọng là giờ đây Tình anh bán chiếu không còn là một bài hát thông thường nữa, mà nó đã được thừa nhận như một áng văn bất hủ.
Một ngày đầu Xuân, tôi tìm đến nhà soạn giả Viễn Châu. Trong căn nhà chật chội nhưng lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, soạn giả Viễn Châu bồi hồi nhớ lại: “Thời điểm năm 1961, trong một lần về Bạc Liêu, đến ngã bảy Phụng Hiệp vào một buổi trưa, dừng chân bên một quán nhỏ ven đường, đang lúc nhâm nhi ly trà thì tôi thấy một thanh niên đang dựng bó chiếu nghỉ mát ở một gốc cây, mắt thì hướng về một đám cưới đang treo rèm, kết hoa ở phía xa xa. Một tia suy nghĩ bất chợt loé lên trong đầu và thế là chỉ chưa đầy một buổi trưa, câu chuyện về một chàng thanh niên bán chiếu từ miệt Cà Mau yêu thầm cô gái Phụng Hiệp - Cần Thơ đã được hình thành để rồi sau này trở thành nội dung chủ đạo của bài vọng cổ Tình anh bán chiếu”. Bài hát này soạn giả Viễn Châu ban đầu sáng tác dành riêng cho Út Trà Ôn (thời điểm này vừa được ông bầu hãng dĩa hát Hồng Hoa mời về) để rồi sau này Út Trà Ôn trở thành đệ nhất danh ca nhờ vào nó. Tuy nhiên, để “có chỗ đứng” trong lòng khán giả, Tình anh bán chiếu đã thành công nhờ vào những hình ảnh hết sức chân quê như con sông Phụng Hiệp, ghe chiếu Cà Mau, mối tình nhà quê của anh con trai tội nghiệp, thương mà không dám nói ra... tất cả được soạn giả Viễn Châu đưa vào bài hát một cách nhẹ nhàng và sâu lắng. Nội dung bài hát tuy bi thương nhưng nghe qua, rõ ràng không có sự ướt át, ủy mỵ thường thấy. Yếu tố thứ hai để có thể gọi đây là một áng văn bất hủ, xuất phát từ nghệ thuật dùng từ hay và tinh tế của người viết. Mặc dù ở Tình anh bán chiếu miêu tả về một chuyện tình cảm động của đôi trai gái miền quê nhưng xuyên suốt bài hát, thay vào cách xưng hô “em - anh”, người nghe chỉ được nghe “cô - tôi” để thể hiện sự rụt rè, đúng bản chất của người dân Nam Bộ (Cô ơi đôi chiếu bông này tự tay tôi dệt lấy); đôi khi thể hiện sự buồn bã, bức xúc cũng chỉ là “người ta” (người ta đã có đôi rồi…). Một Viễn Châu rất tinh tường khi dùng hình ảnh so sánh: anh bán chiếu với nỗi lòng bị phụ tình được ví như “hỡi ơi con sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngã, thì lệ của tôi sao nó cũng lai láng muôn dòng”. Để bài vọng cổ này được đi vào lòng khán giả, soạn giả Viễn Châu còn cho biết ông đã phối hợp nhiều yếu tố: văn chương, hình ảnh, cốt chuyện, âm nhạc và người thể hiện. Điều độc đáo, Tình anh bán chiếu không chỉ là chuyện tình tưởng tượng trong bài hát mà nó còn là những chuyện tình đẹp có thực ngoài đời. Tại Cần Thơ, có dạo giới thương hồ tưng bừng mở hội cưới nhau cho một cặp trai gái. Hai người quen nhau tình cờ trong một buổi cặp ghe chung trên bến Phụng Hiệp. Nàng cảm mến chàng hát bài Tình anh bán chiếu quá hay, sau đó đã đồng lòng “nâng khăn sửa áo” cùng nhau. Ngay cả soạn giả Viễn Châu, khi nghe chuyện về mối tình đẹp này ông cũng đã xúc động bởi một anh bán chiếu ngoài đời dẫu sao vẫn may mắn hơn và đó cũng là đoạn kết có hậu so với anh bán chiếu trong nhạc phẩm của ông.
Đôi nét về cha đẻ bài vọng cổ Tình anh bán chiếu và thể loại “tân cổ giao duyên”
Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá (Bảy Bá). Ông sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Xuất thân trong một gia đình Nho học, từ nhỏ ông đã tỏ ra đam mê và có năng khiếu về cải lương, đờn ca tài tử... Năm 19 tuổi, ông chơi thạo các loại nhạc cụ như: đàn tranh, đàn kìm, guitar, violon... Nhờ tài hoa nên ông đã nhanh chóng sáp nhập ban nhạc toàn những nhạc sĩ nổi tiếng thời đó như: Hai Biếu (đàn tranh), Bảy Hàm (đàn cò), Chí Hoà (kìm)...
[Only registered and activated users can see links]
Soạn giả - NSƯT Viễn Châu
Năm 1946, gia đình ông tham gia kháng chiến và người thân của ông bị địch bắt giết chết. Ông rời bỏ quê hương lên Sài Gòn tìm đến gánh Năm Châu nhưng sau đó cũng bị bắt. Năm 1949, ông trốn về được Sài Gòn và hoạt động nghệ thuật tiếp dưới cái tên Trương Văn Bảy. Được nhiều lớp đàn anh giúp đỡ, Viễn Châu đã tìm lại niềm đam mê cháy bỏng của mình qua việc sáng tác. Hơn 60 năm cầm bút, ông đã cho ra đời hàng trăm tác phẩm không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật mà còn ở lĩnh vực văn thơ. Song song với bài vọng cổ Tình anh bán chiếu, nhiều vở cải lương, bài hát khác được ra đời như: Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà, Lá trầu xanh, Kép hát làm vua... mà từ đó đã đưa nhiều nghệ sĩ trở nên nổi tiếng như: Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Minh Phụng, Lệ Thủy...
Năm 1988, soạn giả Viễn Châu được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.
NGUYỄN VINH(Công an TPHCM)