bluchip
19-12-08, 01:00 PM
Hỏi :
Gần đây, mật gấu trở nên rất thông dụng và nghe nói là chữa được nhiều bệnh. Tôi muốn mua một ít nhưng không biết thế nào là mật gấu thật và thế nào là mật gấu giả. Kính mong được tư vấn giùm
(Nguyễn Thanh Hải, Nông Cống, Thanh Hoá)
Đáp:
1.Phân biệt bằng nhận dạng bên ngoài
Túi mật khô thật có hình trứng dẹt, thường dài 10 - 20 cm, rộng 5-10 cm và dày 5- 5 mm, phần trên (miệng) thuôn nhỏ hẹp và rỗng, phần dưới (đáy) phình to, chứa nhiều chất mật khô. Bề mặt túi nhẵn sáng, màu nâu xám hoặc nâu đen, có những nếp gấp. Khi soi túi ra ánh sáng thấy phần trên trong suốt, phần giữa và phần đáy có màu sẫm. Nếu cắt túi mật ra sẽ thấy các "đởm nhân" (chất mật khô) dạng cục khối, dạng hạt hoặc dạng cao cứng to nhỏ không đều, mầu sắc thẫm nhạt khác nhau (vàng tươi, vàng xanh, nâu đen hoặc xanh đen), óng ánh, mùi thơm dịu. Loại to, trong suốt, chứa nhiều đởm nhân có màu vàng kim loại óng ánh, vị đắng trước ngọt sau là tốt nhất.
Túi mật giả thường là túi mật của lợn, trâu, bò, ngựa và dê hoặc được tạo ra từ bàng quang hay ruột động vật buộc lại thành túi, bên trong chứa cao thực vật. Túi có hình elip dẹt, cổ túi thường được buộc bằng dây các loại, phần thân và đáy có những chỗ lồi lõm to nhỏ không đều nhau, mặt ngoài trơn nhẵn màu đen, có rất ít các nếp gấp, có chất màu đen thẩm thấu ra. Chất mật bên trong có dạng có màu đen, bóp mềm và dính tay, mùi khó chịu, khi cho vào miệng nhai thì dính răng, vị ngọt trước đắng sau, có mùi khó chịu.
2. Phân biệt bằng cách thử
* Rắc nhiều bụi nhẹ phủ kín trên mặt của bát nước đầy, sau đó nhỏ một giọt mật gấu vào bát nước sẽ thấy lớp bụi trên mặt nước dạt vào thành bát, để lộ khoảng trống vòng tròn nước trong mà tâm điểm là nơi giọt mật vừa nhỏ vào. Mật của các động vật khác không xoá được bụi trên mặt nước.
* Lấy một ít mật gấu nghiền nát, cho vào cốc nước, mật sẽ quay tròn và lắng dần thành những sợi màu vàng thòng thẳng xuống đáy cốc mà không lan toả ra.
* Nhỏ một giọt mật gấu vào ly nước đầy sẽ thấygiọt mực tự xoay rất nhanh và chạy xuống đáy ly với tốc độ cao, vạch ra một đường sáng như sợi chỉ và khá lâu mới tan đường chỉ này. Các loại mật động vật khác tuy cũng chạy xuống đáy ly nước nhưng tốc độ chậm và không có vệt sáng như mật gấu.
* Lấy một chút mật gấu to bằng hạt gạo nếp, bỏ vào bát nước trong nếu thấy có một đường kéo từ mặt bát nước xuống đáy bát, thẳng như sợi chỉ, lâu mãi chưa tan thì đấy là mật gấu thật và tốt.
* Láng qua nước lã cho ướt lên mặt một cái đĩa, rồi lấy một ít mật gấu đặt vào giữa đĩa, nước sẽ tách ra khỏi mật.
* Tẩm mật gấu vào một miếng bông gòn rồi đốt sẽ thấy ngọn lửa tắt ngay (như khi lửa bị nước tạt vào), vì mật gấu đốt không cháy được. Các loại mật động vật khác đều đốt cháy hết.
* Nếm mật gấu thật lúc đầu thấy đắng sau chuyển sang vị ngọt mát và có cảm giác thấm sâu và dính vào lưỡi, mùi thơm nhẹ, ngậm lâu sẽ tan hết, không tanh. Mật các động vật khác chỉ chỉ đắng mà không dính lưỡi.
* Vì gấu thích ăn mật ong nên người ta thử mật gấu bằng cách: lấy một chậu nước, một đầu đường kính chậu đốt ngọn nến bằng sáp ong, đầu kia nhỏ một giọt mật gấu sẽ thấy mật gấu chuyển động trong nước về phía sáp ong. Các loại mật động vật khác không có hiện tượng này.
* Đem mật gấu đốt trực tiếp trên lửa không thấy cháy chỉ thấy sủi bọt, không có mùi tanh. Mật gấu giả khi đốt sẽ sản sinh mùi đường cháy hoặc mùi tanh thối rất khó chịu.
* Nhỏ một giọt mật gấu vào khối máu đông (như tiết canh) thì khối máu này sẽ tan ra. Các mật động vật khác không làm được chức năng này.
* Mật gấu thật khi quan sát dưới đèn tử ngoại sẽ thấy ánh huỳnh quang màu vàng trắng. Mật gấu giả sẽ thấy màu vàng tươi, vàng xám, vàng nhợt hoặc vàng sẫm.
* Trong ly nước ngọt có mật gấu thật, nếu nhỏ vài giọt axit sulfuric sẽ thấy ly nước có mầu đỏ hồng tươi (thời gian sau sẽ chuyển sang màu xanh lam rồi xanh lục).
* Dùng phương pháp hoá học để phân lập axit ursodesoxycholic rồi thử các tính chất đặc trưng của axit này như độ chảy (202°), độ quay cực (+57°07), phản ứng màu (đỏ với dung dịch axit ursodesoxycholic trong nước, đường và axit sulfuric đặc ; xanh lục với dung dịch axit ursodesoxycholic trong cloroform và acetic anhydrid). Cụ thể là : Hoà tan 0,50g mật gấu vào dung dịch kali hydroxit 5%. Đun sôi, sau khi hoà tan acid hoá bằng axit clohydric, rồi lắc với ête êtylic 3 lần, mỗi lần dùng 10 ml. Hợp các dung dịch ête lại ; dùng nước rửa sạch, rồi bốc hơi hết ête đi. Ta sẽ có hỗn hợp axit chenodesoxycholic và axit ursodesoxycholic. Hoà tan cặn này trong 10 ml dung dịch amoniac 12%, rồi thêm 10 ml dung dịch 10% bary clorua. Lọc lấy kết tủa, ta sẽ có muối bary của các axit trên. Thêm 10 ml dung dịch 10% natri cacbonat đun nóng để loại bỏ bary. Rồi axit hoá bằng axit clohydric. Lắc với ête êtylic 3 lần, mỗi lần dùng 10 ml ête. Hợp các dung dịch ête lại ; cất thu hồi ête. Hoà tan cặn trong etylaxetat. Để yên cho kết tinh ; sau đó lọc lấy tinh thể, axit chenodesoxycholic không kết tinh. Để khô, ta được axit ursodesoxycholic.
Cân thật chính xác 0,50g mật gấu, rồi tiến hành như trên. Rồi cân axit ursodesoxycholic chiết suất được, ta phải thu được 0,10g tức là trong mật gấu thạt phải có tới trên 20% axit ursodesoxycholic.
khamchuabenh.net(Nguồn benhvien108.vn)
Gần đây, mật gấu trở nên rất thông dụng và nghe nói là chữa được nhiều bệnh. Tôi muốn mua một ít nhưng không biết thế nào là mật gấu thật và thế nào là mật gấu giả. Kính mong được tư vấn giùm
(Nguyễn Thanh Hải, Nông Cống, Thanh Hoá)
Đáp:
1.Phân biệt bằng nhận dạng bên ngoài
Túi mật khô thật có hình trứng dẹt, thường dài 10 - 20 cm, rộng 5-10 cm và dày 5- 5 mm, phần trên (miệng) thuôn nhỏ hẹp và rỗng, phần dưới (đáy) phình to, chứa nhiều chất mật khô. Bề mặt túi nhẵn sáng, màu nâu xám hoặc nâu đen, có những nếp gấp. Khi soi túi ra ánh sáng thấy phần trên trong suốt, phần giữa và phần đáy có màu sẫm. Nếu cắt túi mật ra sẽ thấy các "đởm nhân" (chất mật khô) dạng cục khối, dạng hạt hoặc dạng cao cứng to nhỏ không đều, mầu sắc thẫm nhạt khác nhau (vàng tươi, vàng xanh, nâu đen hoặc xanh đen), óng ánh, mùi thơm dịu. Loại to, trong suốt, chứa nhiều đởm nhân có màu vàng kim loại óng ánh, vị đắng trước ngọt sau là tốt nhất.
Túi mật giả thường là túi mật của lợn, trâu, bò, ngựa và dê hoặc được tạo ra từ bàng quang hay ruột động vật buộc lại thành túi, bên trong chứa cao thực vật. Túi có hình elip dẹt, cổ túi thường được buộc bằng dây các loại, phần thân và đáy có những chỗ lồi lõm to nhỏ không đều nhau, mặt ngoài trơn nhẵn màu đen, có rất ít các nếp gấp, có chất màu đen thẩm thấu ra. Chất mật bên trong có dạng có màu đen, bóp mềm và dính tay, mùi khó chịu, khi cho vào miệng nhai thì dính răng, vị ngọt trước đắng sau, có mùi khó chịu.
2. Phân biệt bằng cách thử
* Rắc nhiều bụi nhẹ phủ kín trên mặt của bát nước đầy, sau đó nhỏ một giọt mật gấu vào bát nước sẽ thấy lớp bụi trên mặt nước dạt vào thành bát, để lộ khoảng trống vòng tròn nước trong mà tâm điểm là nơi giọt mật vừa nhỏ vào. Mật của các động vật khác không xoá được bụi trên mặt nước.
* Lấy một ít mật gấu nghiền nát, cho vào cốc nước, mật sẽ quay tròn và lắng dần thành những sợi màu vàng thòng thẳng xuống đáy cốc mà không lan toả ra.
* Nhỏ một giọt mật gấu vào ly nước đầy sẽ thấygiọt mực tự xoay rất nhanh và chạy xuống đáy ly với tốc độ cao, vạch ra một đường sáng như sợi chỉ và khá lâu mới tan đường chỉ này. Các loại mật động vật khác tuy cũng chạy xuống đáy ly nước nhưng tốc độ chậm và không có vệt sáng như mật gấu.
* Lấy một chút mật gấu to bằng hạt gạo nếp, bỏ vào bát nước trong nếu thấy có một đường kéo từ mặt bát nước xuống đáy bát, thẳng như sợi chỉ, lâu mãi chưa tan thì đấy là mật gấu thật và tốt.
* Láng qua nước lã cho ướt lên mặt một cái đĩa, rồi lấy một ít mật gấu đặt vào giữa đĩa, nước sẽ tách ra khỏi mật.
* Tẩm mật gấu vào một miếng bông gòn rồi đốt sẽ thấy ngọn lửa tắt ngay (như khi lửa bị nước tạt vào), vì mật gấu đốt không cháy được. Các loại mật động vật khác đều đốt cháy hết.
* Nếm mật gấu thật lúc đầu thấy đắng sau chuyển sang vị ngọt mát và có cảm giác thấm sâu và dính vào lưỡi, mùi thơm nhẹ, ngậm lâu sẽ tan hết, không tanh. Mật các động vật khác chỉ chỉ đắng mà không dính lưỡi.
* Vì gấu thích ăn mật ong nên người ta thử mật gấu bằng cách: lấy một chậu nước, một đầu đường kính chậu đốt ngọn nến bằng sáp ong, đầu kia nhỏ một giọt mật gấu sẽ thấy mật gấu chuyển động trong nước về phía sáp ong. Các loại mật động vật khác không có hiện tượng này.
* Đem mật gấu đốt trực tiếp trên lửa không thấy cháy chỉ thấy sủi bọt, không có mùi tanh. Mật gấu giả khi đốt sẽ sản sinh mùi đường cháy hoặc mùi tanh thối rất khó chịu.
* Nhỏ một giọt mật gấu vào khối máu đông (như tiết canh) thì khối máu này sẽ tan ra. Các mật động vật khác không làm được chức năng này.
* Mật gấu thật khi quan sát dưới đèn tử ngoại sẽ thấy ánh huỳnh quang màu vàng trắng. Mật gấu giả sẽ thấy màu vàng tươi, vàng xám, vàng nhợt hoặc vàng sẫm.
* Trong ly nước ngọt có mật gấu thật, nếu nhỏ vài giọt axit sulfuric sẽ thấy ly nước có mầu đỏ hồng tươi (thời gian sau sẽ chuyển sang màu xanh lam rồi xanh lục).
* Dùng phương pháp hoá học để phân lập axit ursodesoxycholic rồi thử các tính chất đặc trưng của axit này như độ chảy (202°), độ quay cực (+57°07), phản ứng màu (đỏ với dung dịch axit ursodesoxycholic trong nước, đường và axit sulfuric đặc ; xanh lục với dung dịch axit ursodesoxycholic trong cloroform và acetic anhydrid). Cụ thể là : Hoà tan 0,50g mật gấu vào dung dịch kali hydroxit 5%. Đun sôi, sau khi hoà tan acid hoá bằng axit clohydric, rồi lắc với ête êtylic 3 lần, mỗi lần dùng 10 ml. Hợp các dung dịch ête lại ; dùng nước rửa sạch, rồi bốc hơi hết ête đi. Ta sẽ có hỗn hợp axit chenodesoxycholic và axit ursodesoxycholic. Hoà tan cặn này trong 10 ml dung dịch amoniac 12%, rồi thêm 10 ml dung dịch 10% bary clorua. Lọc lấy kết tủa, ta sẽ có muối bary của các axit trên. Thêm 10 ml dung dịch 10% natri cacbonat đun nóng để loại bỏ bary. Rồi axit hoá bằng axit clohydric. Lắc với ête êtylic 3 lần, mỗi lần dùng 10 ml ête. Hợp các dung dịch ête lại ; cất thu hồi ête. Hoà tan cặn trong etylaxetat. Để yên cho kết tinh ; sau đó lọc lấy tinh thể, axit chenodesoxycholic không kết tinh. Để khô, ta được axit ursodesoxycholic.
Cân thật chính xác 0,50g mật gấu, rồi tiến hành như trên. Rồi cân axit ursodesoxycholic chiết suất được, ta phải thu được 0,10g tức là trong mật gấu thạt phải có tới trên 20% axit ursodesoxycholic.
khamchuabenh.net(Nguồn benhvien108.vn)