PDA

View Full Version : Ăn gì khi mang thai?


sunrise
13-12-08, 06:04 PM
Vợ tôi mang bầu. Vậy thì tăng cân như thế nào là bình thường và xin cho biết chế độ ăn uống, vận động hợp lý cho bà bầu. (Bùi Văn Khắc)

Trả lời:

Từ khi mang thai đến lúc sinh con, cơ thể phải chịu nhiều thay đổi. Mỡ tích tụ khắp nơi, da mất sự đàn hồi, cơ không săn chắc. Tuy nhiên, bạn đừng quá lo lắng vì tất cả sẽ đâu lại vào đấy nếu có phương pháp hợp lý.

Hãy tạm ngừng các chế độ ăn kiêng và chấp nhận lên cân: Việc lên cân trong thời gian mang thai là cần thiết, nhưng phải dần dần: rất ít trong ba tháng đầu tiên, 2,5-3 kg cho đến tháng thứ 5, từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 7 là 3,5-4 kg và khoảng 4,5-5 kg cho đến lúc sinh. Số cân trung bình tăng 10-12 kg.

Tăng khẩu phần ăn nhiều năng lượng. Không nói đến chuyện ăn cho hai người, nhu cầu của phụ nữ mang thai thậm chí còn lên đến 2.000 - 2.200 kcal/ngày vào thời điểm đầu, tăng lên 2.500 kcal/ngày sau đó.

Vào đầu thai kỳ, nguồn năng lượng này được dự trữ dưới dạng protein và mỡ. Sau đó, nó được sử dụng cho việc phát triển ngực, tử cung và lượng máu cung cấp cho thai nhi.

Coi chừng lên cân quá nhiều:Tùy theo hình thể của bạn khi bắt đầu mang thai, sự tăng cân trong quá trình mang thai sẽ không giống nhau. Nếu bạn là người gầy thì cần tăng 12,5-18 kg; nếu bạn có cơ thể lý tưởng thì nên tăng 11,5-16 kg và nếu bạn béo phì thì chỉ cần 8-10 kg.

Vì vậy, nếu bạn là người “tròn trịa” trước đó thì có thể giảm nguồn cung cấp thực phẩm; thay vì 2.500 kcalo, chỉ nên bổ sung 1.800 kcalo/ngày, nhất là trong những tháng cuối, đồng thời giảm chất béo và đường, tuyệt đối không nên ăn vặt.

Tình trạng lên cân nhiều trong thời gian mang thai không phải là không nguy hiểm. Vì một bà mẹ quá nặng cân sẽ có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao và tiểu đường, đẻ khó, sau đó phát triển thành bệnh béo phì rất khó chữa. Trong thời gian mang thai cũng như trước đó, bạn phải kiểm tra cân nặng của bạn trên cùng một chiếc cân một tuần một lần, vào buổi sáng sớm lúc còn đói.

Hơn bao giờ hết, chế độ ăn của bạn phải được cân bằng nhằm cung cấp dinh dưỡng cho bạn và em bé. Ăn đủ protein (thịt, cá, trứng, sữa), dưỡng chất xây dựng các tế bào của cơ thể, lipit (chất béo) tham gia vào việc tạo thành não của trẻ và gluxit (đường và bột) mang lại năng lượng cho bà mẹ.

Tăng nguồn cung cấp vitamin A (sữa toàn phần, bơ, lòng đỏ trứng), B (ngũ cốc), và D (sữa, bơ, lòng đỏ trứng, cá), axit folic (rau xanh), sắt (động vật thân mềm, thịt đỏ, rau xanh), canxi (sữa, rau xanh) và magiê (rau xanh, nước khoáng).

Để rõ ràng hơn, 2.500 calo hằng ngày mà bạn cần tương đương với: 500 ml sữa, 2 hộp sữa chua, 50g pho mát, 200 g thịt, 250 g bánh, 200 g khoai tây, 200 g rau xanh, 300 g trái cây, 20 g bơ, 15 g dầu và 35 g đường. Cuối cùng đừng quên uống thật nhiều nước.

Đừng bỏ thể thao:Chú ý những môn thể thao nhiều nguy cơ. Nguy hiểm đầu tiên có thể xảy ra với phụ nữ mang thai chơi thể thao là ngã và chấn thương, vì vậy nên tránh các hoạt động mạnh. Các môn thể thao đồng đội, đấu tay đôi, cưỡi ngựa cần phải dừng ngay khi bắt đầu mang thai. Điền kinh vào tháng thứ hai, tennis, đạp xe, gôn vào tháng thứ năm...

Thể thao và mang thai không phải là không hợp nhau, ngược lại, hoạt động thể chất giúp cơ thể khỏe mạnh, hạn chế một vài khó chịu khi mang thai (đau lưng, giãn tĩnh mạch, phù, chuột rút...) và chuẩn bị cho việc sinh nở.

Ưu tiên các hoạt động nhẹ nhàng như bơi (giúp cải thiện hô hấp, giữ cơ bắp săn chắc và làm mềm các khớp), đi bộ (kích hoạt tuần hoàn máu, kích thích hơi thở và cải thiện tiêu hóa). Nhưng trước khi tập luyện, cần hỏi ý kiến bác sĩ.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo - không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn sức khoẻ.

"Từ điển Y Dược trực tuyến" [Only registered and activated users can see links]

ngocmai
13-03-09, 02:13 PM
Trong thời gian mang thai, thai phụ nên có chế độ ăn uống hợp lý. Các mẹ hãy vào đây trao đổi về những kinh nghiệm ăn uống hợp lý nhằm giúp chị em ở cữ được mẹ tròn con vuông nhé.




Chị Huyền, Khoa Khám dịch vụ, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội,đang mang thai ở tháng thứ 7. Ngoài những quy tắc thông thường dành cho bà mẹ mang thai, chị có một số thói quen chăm sóc bản thân và thai nhi muốn bày tỏ với bạn đọc:
Khi mang thai không nên ăn thức ăn chứa bạc hà.
Thói quen chọn hoa quả: Chọn những quả dày vỏ như bưởi, dưa hấu... cho an toàn. Tuyệt đối không ăn hoa quả nhập từ Trung Quốc.
[Only registered and activated users can see links]
Thực phẩm kiêng kị tuyệt đối: Những thực phẩm cay nóng, những thực phẩm có thành phần bạc hà như kẹo cao su vì gây nóng cho thai nhi. Rau bí xanh và rau dền luộc là hai thực phẩm thường xuyên xuất hiện trong bữa ăn của chị Huyền vì hai loại rau này cung cấp nhiều canxi và vitamin, chất sắt, rất có lợi cho thai.

Vệ sinh cơ thể: Không bao giờ tắm nước quá nóng trong mùa đông cũng như nước quá lạnh trong mùa hè. Một ngày vệ sinh vùng kín 3 lần để tránh viêm nhiễm, không dùng các dung dịch có bạc hà.

Theo chị Huyền, không nhất thiết phải mặc đồ lót vào ban đêm để tạo sự thoáng mát, tránh cho vi khuẩn kị khí có điều kiện phát triển trong môi trường ẩm ướt gây viêm nhiễm phụ khoa - một bệnh mà phụ nữ mang thai thường mắc.

Ngoài ra, để giữ gìn sức khỏe, các buổi sáng, chị Huyền thường tập những bài thể dục nhẹ nhàng dành cho bà bầu.

Theo Dân Trí

hoangduydk
10-04-09, 10:40 AM
Canxi với phụ nữ có thai

[Only registered and activated users can see links]

Canxi là yếu tố vi lượng rất cần cho sự phát triển của cơ thể với số lượng lớn hơn cả so với các yếu tố vi lượng khác. Khối lượng canxi trong cơ thể chiếm khoảng 1,5 đến 2% trọng lượng cơ thể và nhu cầu hàng ngày đối với mỗi người tùy theo lứa tuổi đã được biết như sau: trẻ em dưới 10 tuổi mỗi ngày cần 800-1.000mg; từ 12-24 tuổi: 1.200-1.500mg/ngày; từ 25 đến 65 tuổi (hoặc tuổi mãn kinh của nữ) 1.000mg/ngày; từ 65 tuổi trở đi 1.500mg/ngày; phụ nữ có thai và cho con bú: 1.200 - 1.500mg/ngày.



Canxi có vai trò quan trọng trong việc phát triển xương đặc biệt đối với thai nhi từ 3 tháng giữa của thai kỳ trở đi. Lúc này, hệ xương - cơ của thai phát triển rất mạnh, đòi hỏi phải cung cấp đủ một lượng canxi nhất định. Ngoài ra canxi còn tham gia vào quá trình đông máu, các hoạt động cơ thần kinh và hoạt động của hệ tim mạch... Thiếu canxi thai phụ có thể bị loãng xương, hay bị chuột rút hoặc có khi lên cơn co giật; thai nhi cũng chịu ảnh hưởng, chậm phát triển trong tử cung và có thể cả sau khi sinh.

Canxi được cơ thể hấp thu tốt hay không còn phụ thuộc vào lượng vitamin D. Nếu hằng ngày cung cấp đủ 400 đơn vị vitamin D thì khả năng lượng hấp thu canxi của ống tiêu hóa là từ 50-80%, nếu không, cơ thể chỉ hấp thu được khoảng 20% mà thôi. Canxi được đào thải ra ngoài cơ thể theo đường thận 20%, còn lại theo đường tiêu hóa.

Trong các thực phẩm chứa canxi thì sữa là thực phẩm có nhiều canxi và dễ được hấp thu hơn cả. Tuy nhiên, ngoài sữa ra các thực phẩm ăn hằng ngày cũng có một lượng canxi khác nhau. Trong 100g thịt lợn có từ 10-20mg canxi; các loại rau như rau muống, rau ngót, rau dền, mồng tơi khoảng trên 100mg; đậu nành 165mg; đặc biệt trong vừng có tới 1200mg. Các thực phẩm sông biển như cua, tôm, cá cũng rất giàu canxi.

Như vậy, đối với trường hợp thai phụ không thích uống sữa hoặc cơ thể không dung nạp men lacto có trong sữa thì có thể lựa chọn các thực phẩm giàu canxi như đã nêu trên. Để hấp thu canxi tốt có thể bổ sung vitamin D bằng uống viên polyvitamin (viên đa sinh tố, trong đó có vitamin D và các vitamin khác) hoặc hằng ngày tắm nắng vào lúc 8 giờ sáng chừng 10-15 phút để chất tiền vitamin D ở trong da chuyển hóa thành vitamin D. Uống thêm vài viên vitamin C cũng giúp việc hấp thu canxi tốt hơn.

Tuy vậy cũng không nên vì sợ thiếu canxi mà ăn hay uống quá nhiều thuốc và thực phẩm giàu canxi vì khi lượng canxi quá cao, trong quá trình đào thải có thể lắng đọng lại ở thận gây nên sỏi tiết niệu.

Theo BS. Phó Đức Nhuận(sk&đs)

thanh232
15-08-09, 10:21 PM
([Only registered and activated users can see links])
Dinh dưỡng tốt khi mang thai giữ một vai trò quan trọng giúp bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ khi mang thai, khi sinh, và nuôi trẻ sau sinh. Đối với thai, việc mẹ được cung cấp đầy đủ các dưỡng chất sẽ bảo đảm cho thai nhi phát triển tốt và phòng tránh được một số khuyết tật.

Những thay đổi ở phụ nữ mang thai có liên quan đến dinh dưỡng

Khi mang thai, cơ thể người phụ nữ có sự thay đổi trên hầu hết các cơ quan: nhu cầu về năng lượng và các dưỡng chất đều gia tăng, hấp thu ở ruột tăng, thay đổi về chuyển hóa cơ bản, và có một số biểu hiện do sự thay đổi của nội tiết tố trong cơ thể như: chán ăn một hoặc nhiều món ăn, buồn nôn, nôn, ợ nóng, bón. Những thay đổi này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự tăng cân của thai phụ.


[Only registered and activated users can see links]
Hoa quả cung cấp nhiều vitamin cho thai phụ.



Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của thai phụ

Đánh giá sự tăng cân

Mức tăng cân đủ trong suốt thai kỳ được khuyến nghị tại Việt Nam là từ 10-12kg, trong đó:

- 3 tháng đầu: không tăng cân hoặc tăng ít (1kg).

- 3 tháng giữa: 4-5kg.

- 3 tháng cuối: 5-6kg.

Trong 6 tháng cuối, mỗi tháng tăng ít hơn hoặc bằng 1kg là tăng cân ít.

Tăng cân đủ là một yếu tố giúp xác định thai kỳ khỏe mạnh. Tăng cân ít thường gặp ở các thai kỳ bệnh lý hoặc dinh dưỡng kém.

Thai kỳ tăng cân ít: tăng cân ít trong lúc mang thai thường đi kèm với thai chậm tăng trưởng trong tử cung và tỷ lệ tử vong chu sinh cao.

Thai kỳ tăng cân nhiều: tăng cân quá nhiều khi mang thai sẽ dẫn đến tình trạng béo phì sau khi sinh của mẹ và cân nặng của trẻ sơ sinh cao (>4.000g), từ đó đưa đến những khó khăn khi sinh con như: chuyển dạ kéo dài, khó sinh do vai, sinh mổ, chấn thương khi sinh, ngạt, khi mẹ tăng cân quá nhiều đi kèm với cân nặng của trẻ sơ sinh quá lớn thì cũng cần tầm soát đái tháo đường thai kỳ.

Đánh giá khẩu phần ăn: thai phụ trước tiên phải thực hiện theo “10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý” của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2006 – 2010). Đồng thời xem khẩu phần ăn có tăng so với lúc chưa mang thai hay không? Có uống bổ sung sắt và acid folic đúng thời điểm không?


Nhu cầu dinh dưỡng của thai phụ:

Năng lượng: tổng năng lượng bổ sung cho toàn thai kỳ là 55.000 Kcal, nhằm phục vụ cho việc hình thành một trẻ sơ sinh có cân nặng từ 3-3,4kg, tích tụ 0,9kg protien, 3,8kg mỡ và phục vụ cho các chuyển hóa trong cơ thể thai phụ, cụ thể là mỗi ngày thai phụ cần được cung cấp thêm 350Kcal so với lúc không mang thai.

Chất đạm: các acid amin thiết yếu (histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine) phải được cung cấp đủ trong khẩu phần, vì chúng không thể tổng hợp được trong cơ thể. Thai nhi cần số lượng lớn chất đạm để tăng trưởng và tích tụ protein mới. Lượng đạm tăng thêm được khuyến nghị bởi Viện Dinh dưỡng Quốc gia là 15g mỗi ngày. Nguồn đạm tốt cho thai phụ có trong hầu hết là các thực phẩm dùng hàng ngày: thịt, cá, trứng, sữa, pho-mát, ngũ cốc, các loại đậu…

Tăng lượng đạm là cần thiết để duy trì một thai kỳ thành công.

Chất sắt: thiếu máu do thiếu chất sắt là tình trạng thường gặp ở phụ nữ mang thai (30-50%). Hậu quả của thiếu máu thiếu sắt khi có thai là: kết quả thai kỳ kém (không đạt được mẹ tròn con vuông), trẻ sinh ra nhẹ cân, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng cao ở mẹ lẫn con.

Biểu hiện của thiếu máu bao gồm: da xanh, niêm mạc nhợt, cơ nhão, làm việc mau mệt và ưa buồn ngủ.

Sắt là vi chất duy nhất được Tổ chức Y tế Thế giới khuyên nên bổ sung cho phụ nữ mang thai. Liều lượng bổ sung mỗi ngày từ 30-60mg, thời gian bổ sung kéo dài từ khi biết có thai cho đến sau khi sinh 1 tháng. Nên uống viên sắt giữa các bữa ăn với các thức uống không phải là sữa, trà, cà phê.

Thực phẩm giàu sắt bao gồm: các loại thịt, huyết, trứng, gan, tim, các loại rau lá có màu xanh đậm. Sắt có trong thức ăn động vật dễ hấp thu hơn sắt có trong thức ăn thực vật.

Acid folic (vitamin B9): có vai trò quan trọng trong việc phân chia các tế bào, vì vậy ngoài việc tham gia trong quá trình tạo ra tế bào hồng cầu, acid folic còn giữ vai trò quyết định trong việc hoàn thiện ống thần kinh của thai nhi.

Hậu quả của thiếu acid folic là khiếm khuyết ống thần kinh gây ra thai vô sọ, thoát vị não - màng não, hở đốt sống, gai đôi cột sống.Vì ống thần kinh của thai nhi được hình thành trong 4 tuần đầu của thai kỳ, nên việc bổ sung acid folic phải được thực hiện ngay từ khi có ý định mang thai cho đến hết 3 tháng đầu của thai kỳ. Liều bổ sung được khuyến nghị là 0,4 0,8mg/ngày.

Thực phẩm có nhiều acid folic: thịt bò, gan, giá sống, rau xanh, củ cải, bông cải, đậu nành… Nhưng cần lưu ý là acid folic rất dễ bị hủy bởi nhiệt độ và ánh sáng mặt trời.


Giải quyết những rắc rối thường gặp trong thai kỳ

Buồn nôn, nôn: ăn nhiều bữa nhỏ, không ăn quá no, tránh mùi và các loại thức ăn kích thích nôn ói, giữ tinh thần thoải mái.

Ợ nóng (nóng sau xương ức): ăn nhiều bữa nhỏ, tránh động tác cong người, không nằm ngang, đầu thấp.
Táo bón: duy trì thói quen đi tiêu đúng giờ, ăn nhiều rau, trái cây, uống nhiều nước (trên 2 lít mỗi ngày).

Biếng ăn: ăn nhiều bữa, tạo điều kiện để thai phụ được ăn những món mà họ ưa thích.

Phù: hạn chế đứng nhiều, ngồi nhiều, giảm ăn mặn, nằm, đặc biệt là nằm nghiêng giúp giảm phù.

Trĩ: tránh táo bón, tránh đứng nhiều, nên nằm nghiêng, kê chân cao khi nằm.


Thai kỳ có yếu tố nguy cơ

Những thai kỳ có yếu tố nguy cơ dễ có diễn tiến bất lợi cho mẹ và con, vì vậy cần có sự hướng dẫn, chăm sóc trực tiếp từ bác sĩ.

Những yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi dưới 18, chiều cao dưới 145cm, đã sinh trên hoặc bằng 4 lần; những thai kỳ trước có diễn biến bất thường như: băng huyết, sản giật, sinh khó, sinh mổ, con chết tuần đầu sau sinh…; đang có bệnh (tim, phổi, thận), thai kỳ hiện tại có những biểu hiện “bất thường” về tuổi thai, cân nặng mẹ, chiều cao tử cung, ngôi thai, xuất huyết âm đạo….


Xử trí tăng cân ít khi mang thai:

Tăng năng lượng ăn vào bằng cách: ăn nhiều bữa, ăn các thực phẩm có đậm độ năng lượng cao như: dầu, mỡ, các thức ăn chiên, xào, thức ăn ngọt. Chủ động tránh những thức ăn có mùi khó chịu gây kích thích nôn ói, chuẩn bị sẵn những thức ăn ưa thích, dễ ăn.

Sử dụng các thực phẩm bổ sung: sữa dành cho các bà mẹ mang thai.

Thuốc bổ sung các dưỡng chất: các thuốc được sản xuất bổ sung cho thai phụ thường có thành phần dưỡng chất đạt dưới hoặc bằng 100% nhu cầu khuyến nghị hàng ngày cho phụ nữ mang thai, việc bổ sung mỗi ngày 1 viên không gây ngộ độc.


(Theo SKDS)