banglangtim
26-03-09, 11:22 AM
Thế giới đang bị cuốn vào một cơn lốc khủng hoảng kinh tế khốc liệt và cuộc khủng hoảng lần này chắc chắn sẽ để lại những hậu quả nặng nề cho xã hội, trong đó có sức khỏe của người dân ở mọi quốc gia. Liệu người dân Việt Nam và ngành dược có nằm ngoài tâm bão của cuộc khủng hoảng?
10 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, thế giới đang bị cuốn vào một cơn lốc khủng hoảng kinh tế khốc liệt hơn. Bắt đầu từ giữa năm 2008, ngay trong lòng nước Mỹ, một trụ cột của nền kinh tế thế giới, cuộc khủng hoảng đang lây lan như một bệnh dịch với tốc độ chóng mặt trên toàn cầu. Các chuyên gia kinh tế hàng đầu bi quan cho rằng đây là cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất bắt nguồn từ những chính sách tài chính sai lầm của nước Mỹ, làm cho cuộc khủng hoảng lần này còn tệ hơn cuộc khủng hoảng vào thập niên 30 của thế kỷ trước. Khác với khủng hoảng tài chính châu Á 1998, khi đó nước Mỹ dường như đứng ngoài cuộc và các chuyên gia kinh tế Mỹ hăng hái “kê đơn, bốc thuốc” cho nền kinh tế châu Á, thì lần này, chính các nhà kinh tế gạo cội của Hoa Kỳ đang loay hoay “hội chẩn” bệnh tình cho nền kinh tế Mỹ và đang lúng túng “thử sai” hết đơn thuốc này đến đơn thuốc khác cho chính mình.
[Only registered and activated users can see links]
Trong khủng hoảng kinh tế thế giới, ngành dược trong nước bắt buộc phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh.
Khủng hoảng kinh tế và hậu quả đối với sức khỏe nhân dân
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế mạnh mẽ trong 10 năm qua kể từ khủng hoảng tài chính châu Á đã làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế lần này lan nhanh như một thứ bệnh truyền nhiễm trong cơn đại dịch và chắc chắn sẽ để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe của người dân ở mọi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mới đây, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới TS. Margaret Chan trong bài phát biểu tại Diễn đàn lần thứ 23 về các vấn đề toàn cầu (Berlin, 18/3/2009) đã khái quát các hậu quả nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng đến sức khỏe nhân loại. Thất nghiệp tăng, bảo hiểm xã hội và y tế giảm, thu nhập giảm, và chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe giảm. Suy dinh dưỡng xảy ra ở bà mẹ và trẻ em, những bộ phận dân cư dễ bị tổn thương nhất. Thu nhập giảm, đa số người dân tập trung vào các cơ sở y tế công làm cho hệ thống này quá tải. Một bộ phận người nghèo không có khả năng thanh toán chi phí khám chữa bệnh đành để bệnh tật trầm trọng hơn. Sự lo âu và stress làm người ta hút thuốc, uống rượu nhiều hơn và tỷ lệ người có triệu chứng bệnh lý thần kinh tăng lên. Người dân ít quan tâm hơn đến phòng bệnh do phải chi tiêu cho các nhu cầu y tế cấp bách hơn làm cho các bệnh dịch có nguy cơ bùng phát. Hơn 3 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu đang được nhận thuốc ARV có khả năng mất cơ hội sống còn do nguồn kinh phí thiếu hụt. Tình hình cũng như thế với bệnh lao, sốt rét... Thiếu kinh phí và thiếu thuốc, nhất là kháng sinh, sẽ làm các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh lan tràn, đặc biệt là trực khuẩn lao. Năm 2003, thế giới đã đương đầu với dịch SARS, là vụ dịch đầu tiên lớn nhất của thế kỷ XXI lan truyền rất nhanh theo đường hàng không quốc tế, các hoạt động thương mại và du lịch. Thương mại đình trệ, một bộ phận dân cư hoang mang sợ hãi, sân bay, trường học và thậm chí biên giới đóng cửa... May mắn thay, vụ dịch đã được chặn đứng trong vòng 4 tháng. Tuy nhiên, trong thời khủng hoảng kinh tế liệu kịch bản trên có lặp lại?
Bài học của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1998
Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1998, các công ty đa quốc gia coi thị trường dược phẩm châu Á là một thị trường đầy hứa hẹn do các yếu tố: dân số đông; tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao liên tục nhiều năm; mô hình bệnh tật phức tạp, đan xen giữa mô hình các nước công nghiệp và các nước đang phát triển; hệ thống y tế đang được cải cách với sự phát triển mạnh mẽ khu vực y tế tư nhân.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998 đã tác động tiêu cực đến thị trường dược phẩm; tiêu thụ thuốc giảm; giá thuốc tụt dốc; khu vực y tế tư nhân tiêu điều; ngân sách y tế suy giảm. Trước tình hình suy thoái và lạm phát, các Chính phủ đã có các chính sách: tăng cường sản xuất và sử dụng thuốc gốc sản xuất trong nước; ban hành các chính sách bảo hộ thuốc sản xuất trong nước; ban hành quy định về nhập khẩu song song, mua thuốc theo đơn hàng lớn và tăng cường công tác kiểm soát giá; có chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghiệp dược nội địa; tăng cường sử dụng y học cổ truyền và thảo dược... Các công ty dược phẩm châu Á cũng bắt buộc phải thay đổi chiến lược sản xuất – kinh doanh; giảm chi phí không cần thiết để tăng đầu tư cho chất lượng; tăng cường sản xuất thuốc gốc có chất lượng và giá cả phải chăng, được người dân chấp nhận; đầu tư cho công tác nghiên cứu – phát triển để từng bước từ “người bắt chước” trở thành “người sáng chế”; tổ chức lại mạng lưới phân phối.
PGS.TS. Lê Văn Truyền
(Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế)
Theo SKĐS
10 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, thế giới đang bị cuốn vào một cơn lốc khủng hoảng kinh tế khốc liệt hơn. Bắt đầu từ giữa năm 2008, ngay trong lòng nước Mỹ, một trụ cột của nền kinh tế thế giới, cuộc khủng hoảng đang lây lan như một bệnh dịch với tốc độ chóng mặt trên toàn cầu. Các chuyên gia kinh tế hàng đầu bi quan cho rằng đây là cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất bắt nguồn từ những chính sách tài chính sai lầm của nước Mỹ, làm cho cuộc khủng hoảng lần này còn tệ hơn cuộc khủng hoảng vào thập niên 30 của thế kỷ trước. Khác với khủng hoảng tài chính châu Á 1998, khi đó nước Mỹ dường như đứng ngoài cuộc và các chuyên gia kinh tế Mỹ hăng hái “kê đơn, bốc thuốc” cho nền kinh tế châu Á, thì lần này, chính các nhà kinh tế gạo cội của Hoa Kỳ đang loay hoay “hội chẩn” bệnh tình cho nền kinh tế Mỹ và đang lúng túng “thử sai” hết đơn thuốc này đến đơn thuốc khác cho chính mình.
[Only registered and activated users can see links]
Trong khủng hoảng kinh tế thế giới, ngành dược trong nước bắt buộc phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh.
Khủng hoảng kinh tế và hậu quả đối với sức khỏe nhân dân
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế mạnh mẽ trong 10 năm qua kể từ khủng hoảng tài chính châu Á đã làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế lần này lan nhanh như một thứ bệnh truyền nhiễm trong cơn đại dịch và chắc chắn sẽ để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe của người dân ở mọi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mới đây, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới TS. Margaret Chan trong bài phát biểu tại Diễn đàn lần thứ 23 về các vấn đề toàn cầu (Berlin, 18/3/2009) đã khái quát các hậu quả nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng đến sức khỏe nhân loại. Thất nghiệp tăng, bảo hiểm xã hội và y tế giảm, thu nhập giảm, và chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe giảm. Suy dinh dưỡng xảy ra ở bà mẹ và trẻ em, những bộ phận dân cư dễ bị tổn thương nhất. Thu nhập giảm, đa số người dân tập trung vào các cơ sở y tế công làm cho hệ thống này quá tải. Một bộ phận người nghèo không có khả năng thanh toán chi phí khám chữa bệnh đành để bệnh tật trầm trọng hơn. Sự lo âu và stress làm người ta hút thuốc, uống rượu nhiều hơn và tỷ lệ người có triệu chứng bệnh lý thần kinh tăng lên. Người dân ít quan tâm hơn đến phòng bệnh do phải chi tiêu cho các nhu cầu y tế cấp bách hơn làm cho các bệnh dịch có nguy cơ bùng phát. Hơn 3 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu đang được nhận thuốc ARV có khả năng mất cơ hội sống còn do nguồn kinh phí thiếu hụt. Tình hình cũng như thế với bệnh lao, sốt rét... Thiếu kinh phí và thiếu thuốc, nhất là kháng sinh, sẽ làm các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh lan tràn, đặc biệt là trực khuẩn lao. Năm 2003, thế giới đã đương đầu với dịch SARS, là vụ dịch đầu tiên lớn nhất của thế kỷ XXI lan truyền rất nhanh theo đường hàng không quốc tế, các hoạt động thương mại và du lịch. Thương mại đình trệ, một bộ phận dân cư hoang mang sợ hãi, sân bay, trường học và thậm chí biên giới đóng cửa... May mắn thay, vụ dịch đã được chặn đứng trong vòng 4 tháng. Tuy nhiên, trong thời khủng hoảng kinh tế liệu kịch bản trên có lặp lại?
Bài học của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1998
Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1998, các công ty đa quốc gia coi thị trường dược phẩm châu Á là một thị trường đầy hứa hẹn do các yếu tố: dân số đông; tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao liên tục nhiều năm; mô hình bệnh tật phức tạp, đan xen giữa mô hình các nước công nghiệp và các nước đang phát triển; hệ thống y tế đang được cải cách với sự phát triển mạnh mẽ khu vực y tế tư nhân.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998 đã tác động tiêu cực đến thị trường dược phẩm; tiêu thụ thuốc giảm; giá thuốc tụt dốc; khu vực y tế tư nhân tiêu điều; ngân sách y tế suy giảm. Trước tình hình suy thoái và lạm phát, các Chính phủ đã có các chính sách: tăng cường sản xuất và sử dụng thuốc gốc sản xuất trong nước; ban hành các chính sách bảo hộ thuốc sản xuất trong nước; ban hành quy định về nhập khẩu song song, mua thuốc theo đơn hàng lớn và tăng cường công tác kiểm soát giá; có chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghiệp dược nội địa; tăng cường sử dụng y học cổ truyền và thảo dược... Các công ty dược phẩm châu Á cũng bắt buộc phải thay đổi chiến lược sản xuất – kinh doanh; giảm chi phí không cần thiết để tăng đầu tư cho chất lượng; tăng cường sản xuất thuốc gốc có chất lượng và giá cả phải chăng, được người dân chấp nhận; đầu tư cho công tác nghiên cứu – phát triển để từng bước từ “người bắt chước” trở thành “người sáng chế”; tổ chức lại mạng lưới phân phối.
PGS.TS. Lê Văn Truyền
(Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế)
Theo SKĐS